Chào mừng bạn đến với Blog của tôivngofreedom Blogger!

Saturday, 10 March 2012

               Thơ Xa xứ
  


Gió thổi nhẹ qua khung trời mùa hạ.
Cơn mưa buồn vội vã lướt qua đây.
Chiều lặng thầm ta vui chén thơ say.
Cơn gió lạc đưa ai về chốn cũ.

Đêm đã đến vầng trăng như ấp ủ.
Nổi niềm riêng của một kẻ xa quê.
Tự hỏi lòng bao lâu nữa quay về.
Sương phủ lạnh hồn ai bên hiên vắng.

Rượu mỉm cười nuốt vào lòng trái đắng.
Góp nhặt mảnh lòng gửi mây trắng quê tôi.
Dù dòng đời cánh nhạn mãi ngược xuôi.
Vẳng bóng quê cũ một ngày ta trở lại.
                                        VQ
Read more...

Sunday, 12 February 2012


Cách làm mịn da mặt bằng Photoshop mà không ảnh hưởng đến cấu trúc của các lỗ chân lông

Có rất nhiều cách để làm mịn da mặt trong PS, tuy nhiên các cách làm đó thường đem lại kết quả da mặt quá mịn, trông giả tạo, vì các lỗ chân lông bị biến dạng trông như ảnh vẽ. Sau đây xin giới thiệu với các bạn một phương pháp làm mịn da rất đơn giản mà không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trên.
 
Chúng ta sẽ dùng bức ảnh gốc này để làm bài thực hành nhé.

Bước 1:
Sau khi mở bức ảnh bằng PS hãy nhân đôi layer bằng cách kéo layer đó và thả vào nút new layer ở dưới layer palette. Sau đó thiết lập blending mode của layer mới này thành "Vivid Light." (xem hình dưới).

Bước 2:
Tiếp đến hãy nhấn tổ hợp phím Ctrl + I để đảo ngược màu layer này. Sau đó áp dụng bộ lọc Filter > Blur > Gaussian Blur (bạn phải điều chỉnh thanh radius để chọn thông số phù hợp, nhìn vào hình đảo màu này khi thấy xuất hiện các đường nét cấu trúc của khuôn mặt là được) . Xem hình minh họa dưới.

Bước 3:
Bây giờ là bước làm mịn da! hãy vào Filter > Other >High Pass. Hãy nhìn vào bức ảnh và điều chỉnh thanh trượt qua lại đến khi cảm thấy vừa ý thì áp dụng nó. Xem hình minh họa dưới.


Bước 4:
Bước này bạn hãy tạo một layer mask và đổ màu đen lên để ẩn hiệu ứng. Sau đó chọn vào layer mask và dùng một brush với nét mềm, tô lên hình ảnh (với màu trắng nhé) để xuất hiện lại các phần hình ảnh cần áp dụng hiệu ứng , bắt đầu từ vùng má rồi đến trán, mũi..vv... Với những vùng không cần quá nhiều hiệu ứng thì bạn hãy giảm opacity của brush nhé!

Và dưới đây là bức ảnh sau khi đã hoàn chỉnh. Một làn da sáng mịn màng và ảnh vẫn sắc nét đến từng lỗ chân lông phải không các bạn.


Chúc các bạn thành công!
Dịch bởi: netdohoa.com - từ nguồn: psd.tutsplus.co

 

Read more...

Saturday, 4 February 2012


16. to be good at/ bad at + N/ V-ing: giỏi về.../ kém về...
e.g.1: I am good at swimming.
e.g.2: He is very bad at English.
17. by chance = by accident (adv): tình cờ
e.g.1: I met her in Paris by chance last week.
18. to be/get tired of + N/V-ing: mệt mỏi về...
e.g.1: My mother was tired of doing too much housework everyday.
19. can’t stand/ help/ bear/ resist + V-ing: không nhịn được làm gì...
e.g.1: She can't stand laughing at her little dog.
20. to be keen on/ to be fond of + N/V-ing : thích làm gì đó...
e.g.1: My younger sister is fond of playing with her dolls.
21. to be interested in + N/V-ing: quan tâm đến...
e.g.1: Mrs Brown is interested in going shopping on Sundays.
22. to waste + time/ money + V-ing: tốn tiền hoặc thời gian làm gì
e.g.1: He always wastes time playing computer games each day.
e.g.2: Sometimes, I waste a lot of money buying clothes.
23. To spend + amount of time/ money + V-ing: dành bao nhiêu thời gian làm gì..
e.g.1: I spend 2 hours reading books a day.
e.g.2: Mr Jim spent a lot of money traveling around the world last year.
24. To spend + amount of time/ money + on + something: dành thời gian vào việc gì...

e.g.1: My mother often spends 2 hours on housework everyday.
e.g.2: She spent all of her money on clothes.

25. to give up + V-ing/ N: từ bỏ làm gì/ cái gì...
e.g.1: You should give up smoking as soon as possible.
26. would like/ want/wish + to do something: thích làm gì...
e.g.1: I would like to go to the cinema with you tonight.
27. have + (something) to + Verb: có cái gì đó để làm
e.g.1: I have many things to do this week.
28. It + be + something/ someone + that/ who: chính...mà...
e.g.1: It is Tom who got the best marks in my class.
e.g.2: It is the villa that he had to spend a lot of money last year.
29. Had better + V(infinitive): nên làm gì....
e.g.1: You had better go to see the doctor.
30. hate/ like/ dislike/ enjoy/ avoid/ finish/ mind/ postpone/ practise/ consider/ delay/ deny/ suggest/ risk/ keep/ imagine/ fancy + V-ing 

e.g.1: I always practise speaking English everyday.


Read more...


Các thì trong tiếng anh


I.PRESENT TENSES (CÁC THỜI HIỆN TẠI)
1.SIMPLE  PRESENT(SP_THỜI HIỆN TẠI ĐƠN)
*Công thức chung:
#CHỦ ĐỘNG(ACTIVE)
+ Ở thể khẳng định : Subject + Verb hoặc Verb thêm s/es (với danh từ số ít) + ….
+Ở thể phủ định : Subject + verb + not (với các động từ đặc biệt) + ….
            Hoặc       : Subject + do/does + not + verb nguyên mẫu (với các động từ thường) 
+Ở thể nghi vấn : AM/IS/ARE + subject + ….
            Hoặc       : DO/DOES + subject + verb nguyên mẫu  (với các động từ thường)
#BỊ ĐỘNG(PASSIVE)
+Khẳng định : Subject + am/is/are + verb cột 3 hoặc verb thêm ED  + (by object1) + (object2)
+Phủ định : Subject + am/is/are + not + verb cột 3 hoặc verb thêm ED  + (by object1) (+object2)
+Nghi vấn : Am/Is/Are + subject + verb cột 3 hoặc verb thêm ED  + (by object1) + (object2)
-Dùng verb cột 3 với các động từ bất quy tắc,verb thêm ed với các động từ bình thường
Phần trong ngoặc có thể có hoặc không có
Examples (Các ví dụ):
a/I do homeworks everyday (Chủ động)
Homeworks are done (by me) everyday(Bị động)
b/I don’t like him ( phủ định với động từ thường)
Do you like him? (Nghi vấn với động từ thường)
c/She is not a teacher (Phủ định với động từ đặc biệt)
Is she a teacher? (Nghi vấn với động từ đặc biệt)

*Các động từ đặc biệt : động từ to be(am/is/are),must,have to,…

-Dùng  để diễn đạt 1 hành động mang tính chu kì và thường xuyên (regular  action) hoặc thói quen (habitual action),hoặc 1 chân lý (the truth)
Ex: I go to school everyday
-Thường  dùng SP với 1 số phó từ chỉ thời gian như today,present  day,nowadays…hoặc các phó từ chỉ tần suất như  always,sometimes,often,every + thời gian….
-SP  thường ko dùng để diễn tả những việc đang xảy ra ở thời điểm hiện tại  (now),ngọai trừ những động từ thể hiện trạng thái (stative verbs ) sau:
know,believe,hear,see,smell,wish,understand,hate,l  ove,like,want,sound,have,need,appear,seem,taste,ow  n
*Điều đó có nghĩa là những động từ trên sẽ ko bao giờ xuất hiện trong các thời tiếp diễn 
Ex: They understand the problem now
I want to leave here now (không dùng : I’m wanting to leave here now)

*Cách chuyển từ câu chủ động sang câu bị động và ngược lại :
Câu chủ động có cấu trúc : S (thường là người) + verb + O1(thừờng là 1 sự vật/sự việc) + (O2)…
Trong câu bị động , O1  trong câu chủ động sẽ chuyển thành S trong câu bị động,như thế câu bị động sẽ có công thức : S (chính là O1) + am/is/are +Verb cột 3 hoặc verb thêm ED + (by + object[chính là S ở câu chủ động]) + (O2) +…
Phần trong ngoặc có thể có hoặc không có
Example : 
       I       do       homework     everyday
      (S)   (verb)       (O1)             (O2)
Chuyển sang bị động như sau:
  Homework          is done              (by me)              everyday
  (O1)           (verb dạng bị đông)   (by +túc từ)        (O2)
*Thông thường với các đại từ nhân xưng ( I,WE,SHE…)người ta thường bỏ đi cụm BY + OBJECT  khi chuyển sang bị động
2.PRESENT PROGRESSIVE(HIỆN TẠI TIẾP DIỄN)
*Công thức chung :
-ACTIVE:
+Khẳng định:Subject(chủ từ)+am/is/are+V_ing + (O1) + (O2)
+Phủ định : Subject + am/is/are + not + V_ing + (O1) + (O2)
+Nghi vấn : AM/IS/ARE + subject + V_ing+ (O1) + (O2)?
-PASSIVE:tương tự nguyên tắc của thì hiện tại đơn,cách chuyển của hiện tại tiếp diễn cũng y như thê,chỉ khác phần động từ :
          …+is/are+being+V3/hoặc V thêm Ed+….
-Dùng  để diễn đạt một việc đang xảy ra vào thời điểm hịên tại,thường được xác  định bằng 1 số phó từ như now,rightnow,at this moment…
-Dùng thay thế cho thời tương lai gần(trong văn nói)
Ex: We are flying to Paris next mont
-Các  động từ chỉ trạng thái (stative werbs) ko được chia ở thời tiếp diễn nếu  khi đó chúng diễn tả trạng thái,cảm giác về mặt tinh thần hoặc tính  chất sự việc
know,believe,hear,see,smell,wish,understand,hate,l  ove,like,want,sound,have,need,appear,seem,taste,ow  n
Ex: I want to leave here now(tôi muốn rời khỏi đây vào lúc này)
Nhưng nếu các động từ trên quay sang hướng động từ hành động thì chúng có thể được dùng ở thời tiếp diễn
Ex:I have a lot of books
I’m having dinner(động từ have lúc này chỉ hành động:ăn tối)
I think they will come in time
I’m thinking of my test tomorrow ( động từ hành động : đang nghĩ về)
3.PRESENT PERFECT (HIỆN TẠI HÒAN THÀNH)
*Công thức chung :
+ACTIVE:
-Khẳng định: Subject + have/has + verbs (thêm ed hoặc verbs ở cột 3)+(O1)+(O2)
-Phủ định : Subject + have/has + not + verbs (thêm ed hoặc verbs ở cột 3)+(O1)+(O2)
-Nghi vấn : Have/Has + subject + verbs (thêm ed hoặc verbs ở cột 3)+(O1)+(O2)
+PASSIVE:Vẫn cách thức tương tự,chỉ khác phần động từ:
           ….Have/Has+been+ verbs (thêm ed hoặc verbs ở cột 3)…
-Diễn tả 1 hành động xảy ra ở 1 thời điểm ko xác định trong quá khứ
Ex: I have traveled around the world
-Diễn tả 1 hành động xảy ra nhiều lần trong quá khứ
Ex:I have seen this movie three times
-Diễn tả hành động xảy ra trong quá khứ và vẫn còn tiếp tục ở hiện tại
Ex:I have lived in that house since 1986
*Cách dùng SINCE và FOR
- For+khỏang thời gian (EX: for 20 years…)
-Since+thời điểm bắt đầu(Ex: since 2000…)
*Cách dùng ALREADY & YET
-Already dùng trong câu khẳng định,đứng sau have/has hoặc đứng cuối câu
Ex: I’ve already finished my homework
I’ve written my post already
-Yet dùng trong câu phủ định hoặc nghi vấn,thường đứng ở cuối câu
Ex: I’ve not written my post yet
Have you written your post yet?
-Trường hợp đặc biệt,yet có thể đứng sau have/has,nhưng khi đó động từ theo sau phải trở về dạng nguyên mẫu có TO và ko dùng NOT
Cthức : Subject + have/has + yet + to verb
Ex : I have yet to learn the material = I have not learnt the material yet
-Thời  hiện tại hòan thành thường được dùng với 1 số cụm từ chỉ thời gian như :  now that,till now,untill now,so far,recently,lately, hoặc before  (before luôn đứng ở cuối câu)
Ex: So far, the problem has not been resolved
4.PRESENT  PERFECT PROGRESSIVE (HIỆN TẠI HÒAN THÀNH TIẾP DIỄN)
-Hành động đang diễn ra ở hiện tại và có khả năng lan rộng đến tương lai chưa có kết quả rõ rang
Cthức : 
+ACTIVE:
-Khằng định:Subject + have/has + been + verb_ing…
-Phủ định:Subject + have/has + not + been + V_ing…
-Nghi vấn : Have/has + subject + been + V_ing…
+PASSIVE:thường ở thì này người ta không dùng câu bị động
Ex : I’ve been waiting for you for half an hour (hành động này vẫn đang tíêp tục,và không biết kéo dài đến lúc nào)

**CÁC THÌ TƯƠNG LAI (FUTURE TENSES)
1.SIMPLE FUTURE:
-Cthức chung :
+ACTIVE: S + will/shall + verb nguyên mẫu cột 1 + ….
                   S + will/shall + not + V nguyên mẫu cột 1 + ….
                  (Từ để hỏi ) + will/shall + S + V nguyên mẫu cột 1 + ….
+PASSIVE:   ……will/shall + be + V cột 3 + …..
-Thông thường,người ta dùng will cho tất cả chủ từ,giờ ít ai dùng shall
-Dùng  để diễn tả 1 hành động xảy ra ở 1 thời điểm nhất định trong tương lai  nhưng chưa xác định cụ thể.Thường dùng với 1 số phó từ thời gian như :  tomorrow,next + time,in (the)future,from now on…..
Ex: I will go to England next year
2.NEAR FUTURE (tương lai gần)
-Cthức chung : S +am/is/are + going to + V nguyên mẫu cột 1+…
-Diễn  tả hành động xảy ra trong tương lai gần,thường kèm 1 số phó từ có dạng  như : in a moment ( 1 lát nữa),at 3 o’clok at this afternoon….
-Ngày nay người ta thường dùng present progressive thay cho near future
Ex : I ‘m going to go the zoo in a moment ( lát nữa tôi định đi đến vườn thú)
3.FUTURE PROGRESSIVE (TƯƠNG LAI TIẾP DIỄN)
-Cthức chung : S +will/shall + be + V_ING +…..
                         S + will/shall + not + be + V_ing….
                         (Từ để hỏi) + will/shall + S + be + V_ing…
-Diễn tả hành động xảy ra ở thời điểm xác định trong tương lai
Ex:At 8 AM tomorrow,I will be taking a test
-Diễn tả 2 hành động xảy ra song song xác định thời gian,1 ở hiện tại,1 ở tương lai
Ex: now,I’m watching tivi ,but by this time tomorrow,I will be attending the meeting at the office
-Dùng để dự đóan tương lai
Ex: Don’t phone now.They will be having dinner
-Dùng để diễn đạt 1 lời đề nghị lịch sự nhã nhặn muốn biết về kế họach của người khác
Ex:Will you be staying here in this evening?
4.FUTURE PERFECT(TƯƠNG LAI HÒAN THÀNH)
-Cthức chung : S + will/shall +have + V cột 3 hoặc V_ED+…
-Dùng để diễn tả 1 hành động sẽ phải hòan tất vào 1 thời điểm xác định trong tương lai
-Các từ chỉ thời gian thường có dạng : by the end of….,by the time+sentence..
Ex: We will have accomplished the English grammar course by the end of next week
III . CÁC THỜI QUÁ KHỨ ( PAST TENSES)
1.SIMPLE PAST(QUÁ KHỨ ĐƠN)
*Công thức chung:
-ACTIVE:
+Khẳng định: Subject+ Verb cột 2 hoặc Verb thêm ED + …..
+Phủ định : Subject + did not + verb cột 1 + …..(với các động từ thường)
Hoặc : Subject + verb + not +… (với các động tự đặc biệt như am/is.are,must,have to….)
+Nghi vấn : (Từ để hỏi) + DID + subject + verb cột 1 + …..?
Hoặc : (Từ để hỏi)+Verb + subject + ….(với các động tự đặc biệt như am/is.are,must,have to….)
-PASSIVE: cách chuyển đổi và sử dụng với các thì là giống nhau,chỉ khác phần động từ 
….was/were + verb cột 3 hoặc verb thêm ED+….
*Với các câu nghi vấn,ở tất cả các thì đều có 2 dạng là câu hỏi có câu trả lời là yes hoặc no,và câu hỏi xin thông tin
Ví dụ : Are you crazy Bờm? _ Trả lời : Yes ,I am (hehe) < câu hỏi cho yes hoặc no,động từ hoặc trợ động từ đứng đầu câu
What  are you doing?Where are you now?Who loves her?When did he go out? ….  < các câu hỏi xin thông tin thì từ để hỏi sẽ đứng trước động từ hoặc  trợ động từ
+Với  WHO : lưu ý chia động từ theo đúng bản chất (ví dụ xác định xem câu trả  lời chủ từ là số ít hay nhiều,thời điểm xảy ra để chia động từ cho đúng  vì với who,sẽ không dùng các trợ động từ)
Ví dụ : Who stole that book? (Ai đã lấy cắp quyển sách) > hành động ở quá khứ 
Who like pizza?(ai thích pizza?) > chủ từ của câu trả lời chắc chắn sẽ là số nhiều


Example :
a/She went to Paris last year(Cô ấy đã đi đến Paris năm ngóai)
She didn’t (did not) go to Paris last year
Did she go to Paris last year?
b/This book was bought yesterday(cuốn sách này được mua hôm qua)
This book was not bought yesterday
Was this book bought yester day?


-Thời  quá khứ đơn dùng để diễn tả 1 hành động xảy ra ở 1 thời điểm xác định  trong quá khứ và đã chấm dứt,ko ảnh hưởng đến hiện tại.Thường có 1 số  phó từ chỉ thời gian như:at that moment,last (thời gian),yesterday….
2.PAST PROGRESSIVE (QUÁ KHỨ TIẾP DIỄN)
*Công thức chung : Subject + was/were + V_ing + …(ACTIVE)
….+ was/were + being + verb cột 3 hoặc verb thêm ED + … (PASSIVE)
-Dùng để diễn tả 1 hành động đang xảy ra ở quá khứ thì có hành động khác chen ngang vào
S1 + WAS/WERE + V_ING + ….+WHEN+ S2 + V CỘT 2 HOẶC V_ED+….
Example : She was watching tivi when he came (Cô ta đang xem tivi khi anh ấy đến)
-Dùng để diễn tả 2 hành động xảy ra đồng thời trong quá khứ
S1 + WAS/WERE + V_ING+…WHILE + S2 + WAS/WERE+V_ING+…
Example : She was watching tivi while he was reading a book (cô ta đang xem tivi trong khi anh ấy đang đọc sách)
-Dùng  để diễn tả 1 hành động xảy ra tại 1 thời điểm xác định trong quá khứ  < thường thì trong câu có giờ giấc ở quá khứ cụ thể
Example : I was watching tivi at 7 o’clock last night (tôi đang xem tivi lúc 7h tối qua)
3.PAST PERFECT (QUÁ KHỨ HÒAN THÀNH)
*Công thức chung :
S + had + V cột 3 hoặc V_ED+….(ACTIVE)
….+had+been+V cột 3 hoăc V_ED+…(PASSIVE)
-Dùng  để diễn tả 1 hành động xảy ra trước 1 hành động khác trong quá  khứ,thường được dùng với 3 phó từ chỉ thời gian after,before và when
S1 + V1(SIMPLE PASS) + …. + AFTER+ S2 +V2 (PAST PERFECT) +….
S1+V1(PAST PERFECT)+…+BEFORE+S2+V2(SIMPLE PAST)+…
Riêng  với WHEN,mẫu công thức y như trên,chỉ thay after/before = when,nhưng  phải xác định được hành động nào xảy ra trước và hành động nào xảy ra  sau
+Hành động xảy ra trước: past perfect
+Hành động xảy ra sau:simple past
Example : Yesterday,the police came after the robbers had gone away (Cảnh sát đến sau khi những tên cướp đã rời khỏi)
The robbers had gone away before the police came
When the police cam,the robbers had gone away
-Dùng để diễn tả 1 hành động tồn tại ở trong 1 khỏang thời gian nhất định ở quá khứ nhưng đã chấm dứt trước hiện tại (ABC)
Example  : I had lived in HaNoi for 10 years before I went to Ho Chi Minh City  (tôi đã sống ở Hn trong 10 năm trước khi dời vào tphcm)
4.PAST PERFECT PROGRESSIVE (QUÁ KHỨ HÒAN THÀNH TIẾP DIỄN)
-Dùng như trường hợp (ABC) ở trên với ý nghĩa câu không hề thay đổi
*Công thức chung : S + had been +V_ing…
Example : I had been living in HN for 10 years before I went to HCM
xt:sưu tầm


Read more...

Vô địch dũng cảm!
Tại cuộc thi vô địch dũng cảm thế giới. Lọt vào vòng chung kết là đại diện của 3 quốc gia Mỹ, Nhật và Việt Nam.
Trong phần thi đoàn Mỹ, 2 anh chàng cowboy nhẩy lên ngựa rồi mỗi anh phi ngựa về một hướng ngược nhau. Sau khi phi được khoảng 200m thì 2 anh chàng này rút súng ra và bắn bay mũ của nhau. Màn thi cũng khá hấp dẫn tuy nhiên đã được diễn ra nhiều trên phim ảnh nên cũng không được khán giả vỗ tay hưởng ứng nhiều lắm.
Đễn phần thi của đoàn Nhật, 2 võ sĩ samurai bước ra sân khấu cúi đầu chào khán giả. Sau đó một người lấy dao và mổ bụng người còn lại móc ruột gan đặt ra ngoài. Phần thi này được khán giả vỗ tay khá nhiệt liệt.
Cuối cùng đến lượt thi của đoàn Việt Nam, bước ra sân khấu là hai anh chàng ăn mặc khá luộm thuộm, đã thế một anh lại còn mang theo một chiếc cưa, còn một anh thì vác theo một vật gì dài dài đen thui lại còn han gỉ không hiểu là cái gì. Sau đó họ đặt vật kia xuống và ngồi cưa, trong khi cưa họ còn liên tục đốt thuốc lào rất là sảng khoái. Lúc đầu khán giả không hiểu 2 người này đang làm cái gì, thế mà cũng đòi đi thi vô địch dũng cảm. Bỗng có một thành viên ban giám khảo đứng bật dậy và chạy biến khỏi nhà thi đấu, vừa chạy vừa nói gì đó không ra hơi. Khán giả bắt đầu nhốn nháo và 15 giây sau cả nhà thi đấu đã không còn bóng một vị khán giả nào.
Kết qủa cuối cùng đoàn Việt Nam giành giải nhất và được giữ cúp vô địch vĩnh viễn. Thì ra trong phần thi của mình 2 thành viên của đoàn Việt Nam ngồi cưa một quả bom được Mỹ ném xuống trong chiến tranh ở Việt Nam.
- o 0 o -
Khoai tây ngắn ngày.
Trong một hội nghị quốc tế về trồng trọt, đài biểu Pháp phát biểu:
-Chúng tôi trồng khoai tây vào ngày 15-5 và thu hoạch vào 15-8.
Đại biểu Anh:
-Chúng tôi trồng khoai tây vào vào ngày 15-5 nhưng thu hoạch vào 15-7 sớm hơn hẳn một tháng.
Đại biểu Mỹ:
-Chúng tôi trồng khoai tây vào vào ngày 15-5, nhưng thu hoạch vào 15-6 sớm hẳn hai tháng.
Đại biểu Việt Nam:
-Chúng tôi trồng vào ngày 15-5 và thu hoạch vào 16-5
Cả hội trường:
-Cái gì, chỉ có một ngày đã thu hoạch được?
-À vâng, đúng lúc đấy chúng tôi thèm ăn khoai tây đến nỗi không chịu được.

Read more...

Trí thức không thể “trùm chăn” chờ hiến kế! 

Tác giả: Trần Đình Bá *
Bài đã được xuất bản: 04/02/2012 05:00 GMT+7
.
Đã đến lúc tất cả các GS, TS chúng ta phải biết chui ra khỏi “tấm chăn” vị kỷ của mình. Cần dũng cảm minh bạch phản biện và tiếp thu phản biện trong từng luận án TS, phải đặt câu hỏi công trình đó nghiên cứu về cái gì? Dự án đó phục vụ cho ai, hiệu quả sẽ mang lại những gì, và phải chịu trách nhiệm nghiêm túc về tính khả thi.
LTS: Nhân trên các trang mạng xã hội có cuộc mạn đàm sôi nổi về trí thức phản biện khoa học và phản biện xã hội, Tiến sỹ Trần Đình Bá có bài viết gửi Tuần Việt Nam, thực chất là một lá thư gửi các giáo sư, tiến sĩ ngành giao thông vận tải trước thực trạng giao thông của đất nước. Tuần Việt Nam chúng tôi xin đăng tải dưới đây.
Kính thưa 1000 GS, TS ngành GTVT !
Đã 1/4 thế kỷ trôi qua, từ công cuộc đổi mới (1986) đến nay, nước ta đã gặt hái nhiều thành công trên mọi lĩnh vực. Duy chỉ có ngành GTVT dường như đang ngày càng trở nên bất cập trước yêu cầu phát triển của xã hội thời hội nhập. Vì sao?
Giao thông nước nhà vì sao nên nổi?
Khác với nhiều quốc gia bị chia cắt bởi hàng ngàn hòn đảo lớn, nhỏ, nước ta nằm trong lục địa không bị ảnh hưởng bởi núi lửa, động đất sóng thần …, lại có hệ thống giao thông đường bộ phủ khắp toàn quốc, đến tận từng thôn xã. Dọc đất nước là hai tuyến đường quốc lộ số 1 cùng đường Hồ Chí Minh kết nối hai miền nam- bắc và quốc tế. Với 3200 km, chúng ta có một hệ thống 168 cảng biển phủ khắp, nhiều hơn các cường quốc như Hoa kỳ , Anh , Pháp , Đức , Nhật Bản.
VN đã phóng thành công vệ tinh VINASAT khẳng định chủ quyền về không gian vũ trụ. Ngành viễn thông phủ sóng khắp toàn quốc cả ba nước Đông Dương và vươn tới châu Mỹ. Các ngành khoa học công nghệ, xây dựng, y tế, sinh học, năng lượng … đều phát triển, nông nghiệp đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu lúa gạo, nhất thế giới về sản lượng cà phê, cao su …, bơi ra biển lớn WTO hội nhập thế giới văn minh. Trong khi đó, GTVT nước ta tụt hậu đến mức tồi tệ…
Đã 25 năm sau đổi mới, đường sắt quốc gia đang rệu rã xuống cấp gây ra nhiều vụ lật tàu, thị phần vận tải chỉ còn đảm đương chỉ được 6%, thua xa cả loại hình vận tải đường sông. Đã thế hiện nay các GS, TS ngành đường sắt lại đi kiên cố hóa toàn bộ hệ thống bằng tà vẹt BTCT dự ứng lực khổ 1 mét, kéo dài sự lạc hậu của đường sắt quốc gia thêm 110 năm nữa.
Hàng không với tiềm năng lợi thế đứng đầu các nước ASEAN về cơ sở hạ tầng, có hơn 50 sân bay với tổng diện tích gần 500 km2, trong đó có chín sân bay quốc tế hiện đại mà năng lực chuyên chở hiện nay chỉ đạt 12 triệu hành khách/ năm, chiếm có 12% thị phần, xếp gần cuối bảng, sau Thái Lan, Malaixia, Philippin có dân số ít hơn ta, và thua xa  Singapore- nước chỉ có ba triệu dân và duy nhất chỉ có một sân ba. Đã thế, chất lượng phục vụ của hàng không VN thua xa hàng không Lào.
Vận tải biển chưa phát huy được lợi thế hạ tầng, lại rơi vào nợ nần, thị phần cũng chỉ đạt 10%. Như vậy, cả ba ngành GTVT công cộng, hiện đại và chủ lực được toàn dân kỳ vọng nhất chỉ còn đảm đương được… 28%. Còn lại thị phần hành khách và hàng hóa khác dồn lên đường bộ và đường sông, mà đường bộ là chủ yếu, phải gánh 65%. Trong khi diện tích của hạ tầng giao thông đường bộ có giới hạn nhất định, thì phương tiện giao thông tư nhân phát triển ồ ạt tràn ngập phố phường, gây chật chội hỗn loạn.
Nhìn thẳng vào sự thật, giá trị “chất xám ” trong 1.000 luận án tiến sỹ chúng ta còn thiếu chiều sâu nội dung, chưa nắm bắt các nhu cầu thực tế của giao thông nước nhà, không ai chịu nghiên cứu mở rộng đường sắt, không có một luận án nào nghiên cứu hạch toán kinh tế hàng không …
Nhiều luận án TS chỉ có hình thức, thiếu nội dung, xa rời khoa học, duy ý chí, giáo điều, khi vận dụng vào thực tiễn sản xuất, đã để lại những hậu quả nặng nề như Vinashin, thảm họa S1, E1, thảm họa cầu Ghềnh, thảm họa cầu Cần Thơ, bê bối PMU 18, CPI … Đau đớn nhất là tai nạn giao thông đang đứng hàng đầu thế giới với mỗi năm hơn 12 000 người chết, hàng vạn người khác bị thương. Thiệt hại kinh tế hơn một tỷ USD, có phần trách nhiệm của tất cả 1000 GS,TS  ngành GTVT chúng ta!
Đường sắt quốc gia đang rệu rã xuống cấp gây ra nhiều vụ lật tàu
“Trùm chăn” chờ nhân dân hiến kế còn gì là danh dự?
.
Phải thấy rằng, chúng ta đang đứng hàng đầu ASEAN về trí thức trong lĩnh vực GTVT với trên hàng chục trường ĐH, viện nghiên cứu, học viện hàng không ở mọi lĩnh vực kỹ thuật cầu đường, đường sắt, sân bay, bến cảng… Vậy mà nhiều GS, TS lại than rằng: “Không thể mở rộng được đường sắt khổ 1.435mm ,nếu mở rộng đường sắt sẽ phải làm mới hoàn toàn cầu hầm, sẽ làm gián đạn hoạt động giao thông tới ba năm… Vậy thì học TS,  làm GS để làm gì? Đường đường là GS, TS ngành GTVT, mà “trùm chăn” chờ nhân dân hiến kế thì còn gì danh dự?
Khi Tổ quốc lâm nguy, rất nhiều GS, TS, sinh viên GTVT đã tình nguyện xếp bút nghiên ở các trường ĐH, viện nghiên cứu… để lao ra mặt trận, dùng trí thông minh và lòng yêu nước “vô hiệu hóa” bom từ trường, thủy lôi, cây nhiệt đới …”đánh giặc mà đi , mở đường mà tiến” không tiếc máu xương cho  mạch máu giao thông vận tải luôn thông suốt …Trong thư gửi cán bộ nhân viên toàn ngành nhân 66 năm ngày truyền thống, Tư lệnh GTVT Đinh La Thăng đã đưa ra một quyết sách mới là  dũng cảm, thông minh, sáng tạo”. Tôi cho rằng đó là mệnh lệnh lịch sử, là phương châm hành động cho Bộ GTVT trước một thời kỳ mới.
Đường đường là GS, TS ngành GTVT, mà “trùm chăn” chờ nhân dân hiến kế thì còn gì danh dự?
Khẩu hiệu này sẽ kích hoạt lương tâm và trách nhiệm, coi trọng tính mạng nhân dân và lợi ích cộng đồng để đẩy lùi các “nhóm lợi ích”, đẩy lùi thái độ “trùm chăn” chờ thời trong đội ngũ các trí thức GS, TS của ngành GTVT hiện nay.
Đã đến lúc tất cả các GS, TS chúng ta phải biết chui ra khỏi “tấm chăn” vị kỷ của mình. Cần dũng cảm minh bạch phản biện và tiếp thu phản biện trong từng luận án TS, phải đặt câu hỏi công trình đó nghiên cứu về cái gì ? Dự án đó phục vụ cho ai, hiệu quả sẽ mang lại những gì, và phải chịu trách nhiệm nghiêm túc về tính khả thi.
.Phải có đạo đức nghề nghiệp của trí thức trong phản biện khoa học, phản biện xã hội, tính đến hiệu quả của các luận án TS, các dự án kinh tế kỹ thuật. Phân tích tác động xấu – tốt đến đời sống cộng đồng cho cả hiện tại và tương lai. Mỗi một GS, TS phải biết chịu trách nhiệm về chữ ” tôi” để không “trùm chăn” đổ hết trách nhiệm lên đầu 1000 GS, TS chúng ta!
Phải thấy rằng: “Dũng cảm, thông minh và sáng tạo” là mệnh lệnh lịch sử cấp bách mà Tư lệnh Đinh La Thăng đang kêu gọi cả ngành GTVT, nhưng đặc biệt là hơn 1000 GS, TS của ngành nhằm hóa giải được thực trạng hỗn loạn giao thông hiện nay!
Và đó cũng là trách nhiệm của 1000 GS, TS GTVT chúng ta trước thách thức của đời sống, trước đòi hỏi chính đáng của người dân.
Và mời xem tin mới nhất ngay trên báo hôm nay: – Một ngày, 5 người bị tàu lửa tông chết trong 3 vụ tai nạn nghiêm trọng (Người lao động).
Ảnh: TS Trần Đình Bá (Bee.net.vn)

Read more...
1- Nguồn gốc ngày Valentin Về nguồn gốc của ngày này có nhiều giải thích khác nhau vtc_169390_1.jpg picture by HoaDai

Một số các chuyên gia cho rằng nó được khởi nguồn từ thánh Valentinnnfy. Một số các chuyên gia cho rằng nó được khởi nguồn từ thánh Valentin thánh Valentin (Pháp: Valentin, Anh: Valentine, Ý: Valentino) , một người La Mã đã tử vì đạo do từ chối bỏ đạo Thiên Chúa. Ông mất vào ngày 14/02 năm 269, đúng vào ngày mà trước đây người ta gọi là Ngày May Rủi của Tình yêu.
Tại La Mã, vào năm 270, Giám mục Valentino di Interamna, bạn của những tình nhân trẻ, được hoàng đế Claudio II mời đến và có ý dụ Valentino bỏ sáng kiến lạ lùng này (Cơ Ðốc giáo) và quay trở lại đạo Tà giáo (Ða Thần). Thánh Valentino, một cách bình tĩnh nghiêm trang, đã từ chối do đức Tin của ông và một cách bất cẩn, đã dụ Claudio II theo Cơ Ðốc giáo. Ngày 14 tháng Hai năm 270, Thánh Valentino bị ném đá cho đến chết rồi sau đó bị chặt đầu.
vtc_169392_1.jpg picture by HoaDai

Chiếc thiệp Valentin đầu tiên do Esther Howland vẽ tay.
Ngoài ra câu chuyện còn kể thêm rằng trong lúc Valentino bị giam và chờ ngày xử thì có thương cô bé gái mù, con của ông cai ngục Asterius. Với đức Tin của ông , một cách mầu nhiệm, đã làm sáng mắt người con gái này và sau đó ông ký viết cho họ lời vĩnh biệt "quot;dal vostro Valentino", một câu đã sống lâu dài sau cái chết của tác giả.(1)

Dần dần, ngày 14 tháng 2 đã trở thành ngày trao đổi các bức thông điệp của tình yêu và thánh Valentin đã trở thành vị thánh bảo hộ của những người yêu nhau. Người ta kỷ niệm ngày này bằng cách gửi cho nhau những bài thơ và những món quà giản dị như hoa. Người ta cũng thường tổ chức một cuộc hội họp hoặc một buổi khiêu vũ.

Ở Hoa Kỳ, cô Esther Howland được coi là người gửi những chiếc thiệp Valentin đầu tiên. Các bưu thiếp Valentin mang tính chất thương mại đã được giới thiệu từ những năm 1800 và hiện nay ngày lễ này đã được thương mại hóa rất nhiều. Thành phố Loveland, Colorado là nơi kinh doanh các dịch vụ bưu điện cho ngày 14 tháng 2. Sự cảm xúc về cái đẹp của ngày Thánh Valentin vẫn được duy trì khi người ta gửi bưu thiếp cùng với những bài thơ tình cảm và trẻ con trao đổi nhau những chiếc thiệp Valentin ở trường học.

2- Lịch sử ngày Saint Valentin

Ngày Valentin được bắt đầu từ thời kỳ đế quốc La Mã. Dưới thời La Mã cổ đại, ngày 14 tháng 2 là ngày lễ tưởng nhớ Junon. Junon là nữ hoàng của các nam thần và nữ thần La Mã. Người La Mã cũng coi bà là nữ thần cai quản phụ nữ và hôn nhân. Ngày tiếp theo của ngày 14 tháng 2, ngày 15 tháng 2 là ngày đầu tiên của lễ Lupercalia hôn nhân

vtc_169394_1.jpg picture by HoaDai
Cuộc sống của các chàng trai và cô gái trẻ bị ngăn cấm triệt để không cho gần nhau. Tuy nhiên, họ vẫn có thể đến với nhau thông qua phong tục rút thăm tên nhau. Vào đêm hôm trước ngày hội Lupercalia, tên của những cô gái La Mã được viết lên một mảnh giấy nhỏ và được cho vào trong các lọ. Mỗi một chàng trai trẻ sẽ rút thăm một cái tên bất kỳ và sau đó chàng trở thành bạn của cô gái mà anh ta chọn trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Ðôi khi, việc kết đôi của đôi bạn trẻ kéo dài nguyên cả một năm và thông thường họ yêu nhau và sau đó thì cưới nhau.

Dưới sự trị vì của Hoàng đế Claudius II, La Mã tham gia nhiều cuộc chiến đẫm máu và không được dân ủng hộ. Claudius Bạo Tàn gặp phải khó khăn khi kêu gọi các chàng trai trẻ gia nhập vào đội chiến binh của ông ta. Claudius cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của họ. Do đó, Claudius hủy bỏ tất cả các đám cưới hoặc lễ đính hôn ở La Mã.

Thánh Valentin tốt bụng là một linh mục ở thành La Mã dưới thời Claudius II. Ông cùng thánh Marius đã giúp đỡ những người Cơ Ðốc giáo phải chịu cảnh đọa đầy và cho những cặp vợ chồng bí mật cưới nhau. Vì hành động nhân ái này mà thánh đã bị bắt giam và bị kéo lê trước mặt quận trưởng La Mã. Ông ta đã xử thánh Valentin phải bị đánh bằng gậy đến chết và sau đó phải bị chặt đầu.

Valentin phải chịu cuộc hành hình vào đúng ngày 14 tháng 2 vào khoảng năm 270. Từ đó diễn ra một phong tục truyền thống và trở thành lễ hội để nhớ đến một vị thần của người La Mã. Vào dịp này, trong số rất nhiều nghi lễ, có một lễ rút thăm tên của các cô gái trẻ trong một cái hộp cho những người đàn ông bốc trúng. Các Giám mục của những nhà thờ Cơ Ðốc giáo ở La Mã đã cố gắng loại bỏ yếu tố ngoại đạo của những lễ hội này bằng cách thay thế tên của các vị thánh cho những ngày hội của các thiếu nữ này.


Bởi lễ hội Lupercalia bắt đầu vào giữa tháng 2, các Giám mục có vẻ như đã chọn ngày Thánh Valentin làm ngày kỷ niệm cho lễ hội mới này. Do đó, dường như phong tục các chàng trai trẻ chọn các thiếu nữ làm người yêu của mình (trong dịp Valentin) hay chọn cho mình các vị thánh bảo hộ cho năm tới cũng phát sinh do cách này.

3- Ý nghĩa của hoa hồng


clip_image001.jpg picture by HoaDai
Hoa Hồng là hoa Tình yêu và là hoa được nhiều người biết nhất thế giới. Tên La Linh của Hồng là Rosa. Nguồn gốc của hoa Hồng từ xứ Ba Tư.

Hoa hồng tượg trưng cho tình yêu nhưng mỗi màu có một ý nghĩa riêng. Bạn phải hiểu tiếng nói của hoa hồng, để khi ai tặng bạn, bạn có thể hiểu ý nghĩa để khỏi lầm lẫn

Màu sắc của hoa  :

  Hồng đỏ - Tình yêu đam mê của người này cho người kia. Là tình yêu nồng nàn mãnh liệt. Yêu điên cuồng.

Màu hồng - Tình yêu thât sự gắn liền với sự trong trắng. Tình yêu êm dịu nhẹ nhàng. Là một lời hứa tình yêu.

Màu vàng - Có người thì cho là hoa hồng vàng nghĩa là không chung thủy. Trong lúc đó người khác thì hồng vàng tượng trưng cho người tặng yêu bạn nhưng không biết có được yêu lại hay không?.

Màu trắng - Màu trắng là chứng nhân cho tình yêu trong sạch, trinh trắng, thanh cao, quí phái. Có ý nghĩa "yêu thầm lặng

 Màu hoa lavande - Tượng trưng cho tiếng sét ái tình.

Màu đỏ và trắng - Sự phối hợp giữa hoa hồng đỏ và trắng tượng trưng cho sự kết hợp giữa hai người.

                                                                                                                                                     st.
Read more...